Thế Giới Di Động » Mạng Di Động Việt Nam » Chọn GSM đem lại thành công cho Việt Nam

Thế Giới Di Động

Mạng Di Động Việt Nam Điện Thoại Di Động

Member Account

Newest Articles
Cảm nhận Treo 800w
Trên tay hai điện thoại chụp ảnh đỉnh của Samsung so tài
Điện thoại thông minh trên Thế giới tăng trưởng 16% trong Q2/2008
Ấn tượng “bộ ba” HTC Touch HD, Touch 3G và Touch Viva
Ngắm 'dế' Walkman có phím chơi nhạc biến hóa
“Hành trình” của BlackBerry
Nokia bắt đầu tung ra những chiếc N96 đầu tiên
Sony Ericsson mời gọi các nhà phát triển Windows Mobile
Sáu con “dế” mới
Điện thoại “năm trăm”
Reading full article

Chọn GSM đem lại thành công cho Việt Nam

15 năm sau khi khai trương mạng di động đầu tiên, từ chỗ là thứ xa xỉ, dịch vụ di động đã trở nên rất quen thuộc với người người dân VN.
Chọn GSM đem lại thành công cho Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm 15 năm khai trương mạng di động đầu tiên ở Việt Nam, Báo BĐVN đã phỏng vấn ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện và Tổng giám đốc  VNPT, một trong những nhân vật  chủ chốt trong việc quyết định  lựa chọn công nghệ  GSM và đưa ra chiến lược phát triển cho di động Việt Nam  để đem đến những thành công  như ngày hôm nay.

Ngày 3/7/1993, chúng ta đã khai trương dịch vụ  di động công nghệ  GSM đầu tiên ở Hà Nội. Vậy lý do  nào để ta lựa chọn đưa dịch vụ  thông tin  di động vào Việt Nam  ở thời điểm này?

Sau 3 năm đất nước  khởi động và bắt đầu quá trình đổi mới thì ngành BCVT Việt Nam  đã có những bước đột phá bằng việc mở liên lạc viễn thông  quốc tế  qua hệ thống  thông tin  vệ tinh  mặt đất với hai Trung tâm  đặt Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1991, chúng ta đã đưa hệ thống  tổng đài điện tử  vào khai thác tại một loạt thành phố  là Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định… Đây là thời kỳ mà ngành BCVT hoàn thiện việc số hóa bằng các tổng đài điện tử  và truyền dẫn bằng hệ thống  viba số. Thời kỳ này, điện thoại  và Fax hoàn toàn tự động trong nước và quốc tế  thay thế dần cho dịch vụ  điện báo và Telex. Những năm 1990 và 1991 là giai đoạn chuẩn bị cho ngành BCVT bước vào thời kỳ tăng tốc. Đầu tư nước ngoài  phát triển mạnh. Nhu cầu sử dụng dịch vụ  thông tin  di động của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp  nước ngoài  bắt đầu xuất hiện, nhất là thị trường  TP. Hồ Chí Minh. Lúc đó, Tổng cục Bưu điện bắt đầu nghiên cứu  đưa thông tin  di động vào Việt Nam  và tiếp xúc với một số đối tác để chuẩn bị triển khai như SingTel, Acatel, Siemens, Ericsson…

Từ 1991 đến 1993 đã có sự xuất hiện của công nghệ  di động tế bào công nghệ  số GSM, được triển khai nhiều tại châu Âu. Tuy nhiên, công nghệ  này còn đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa được thương mại  hoá rộng rãi. Tổng cục Bưu điện đứng trước tình huống nhu cầu thông tin  di động đã xuất hiện nhưng lựa chọn công nghệ  nào phù hợp với Việt Nam? Lúc này, thế giới  đã đưa vào sử dụng các hệ thống  di động tế bào khoảng 20 năm nhưng hầu hết dùng công nghệ  analog. Cũng xuất hiện ý kiến đề nghị lựa chọn công nghệ  analog  cho Việt Nam  để đáp ứng nhu cầu của thị trường  lúc bấy giờ. Nhưng Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Đặng Văn Thân và lãnh đạo ngành BCVT đã quyết định chọn công nghệ  số để thẳng tiến tới công nghệ  hiện đại và đồng bộ mạng lưới từ nội hạt, truyền dẫn đều sử dụng công nghệ  số. Vì vậy, công nghệ  thông tin  di động được chọn lựa là công nghệ  số GSM. Mặc dù quyết tâm đi theo con đường  công nghệ  số GSM, song  thực tiễn lúc đó rất khó khăn do công nghệ  này đang gặp khó khăn trong thương mại  hóa, thiết bị đầu cuối chưa hoàn thiện và giá cực kỳ đắt đỏ, tới hàng nghìn USD/chiếc.

Năm 1992, Tổng cục Bưu điện quyết định  đàm phán với các đối tác để chuẩn bị đưa công nghệ  GSM triển khai trên phạm vi toàn quốc. Tháng 7/1993, Tổng cục Bưu điện đã lựa chọn Acaltel là nhà sản xuất  thiết bị để triển khai mạng di động đầu tiên tại Hà Nội. Sau đó, cuối năm 1993 và đầu năm 1994, mạng GSM được tiếp tục mở rộng ở TP. Hồ Chí Minh  với đối tác Ericsson. Đến năm 1994, mạng GSM được thiết lập và chính thức cung cấp dịch vụ  tại một số thành phố  lớn. Công nghệ  này cũng được lựa chọn dựa trên tiêu chuẩn của châu Âu  và ITU để đưa vào thị trường  Việt Nam. Sở dĩ Tổng cục Bưu điện chọn 2 nhà cung cấp  thiết bị Alcatel và Ericsson  nhằm tạo sự cạnh tranh nhất định về giá cả, chất lượng  và các dịch vụ  sau bán hàng.

Ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng Cục trưởng TC Bưu điện - TGĐ VNPT   

Chúng ta đã quyết tâm đưa GSM vào Việt Nam, nhưng vì sao thời điểm đó, tại TP Hồ Chí Minh  vẫn triển khai mạng Call-Link sử dụng cộng nghệ analog?

Như tôi nói ở trên, vào thời điểm năm 1992, đã có nhiều ý kiến và nhiều đối tác muốn đưa công nghệ  analog  vào Việt Nam  và cụ thể là thị trường  TP. HCM. Về mặt chiến lược, lãnh đạo ngành BCVT xác định sẽ đi thẳng vào công nghệ  hiện đại. Tuy nhiên, do nhu cầu cấp bách tại thị trường  nên Bưu điện TP.HCM có đề xuất tạm sử dụng một hệ thống  di động analog  gọi là Call-Link. Tổng cục Bưu điện đồng ý cho triển khai nhưng chỉ hạn chế ở địa bàn TP.HCM và sẽ thay thế bằng GSM sau này. 

Thưa ông, lúc đó có đề xuất chọn công nghệ  di động vệ tinh  và thực tế là công nghệ  vệ tinh  cũng có nhiều ưu thế, vậy tại sao chúng ta vẫn chọn GSM?

Đúng là thời điểm đó, một số người nêu ý kiến nên chọn công nghệ  di động vệ tinh  toàn cầu  với ưu điểm là đi khắp nơi trên thế giới  đều có thể sử dụng được cho dù thiết bị đầu cuối to hơn các công nghệ  khác một chút. Thời kỳ này, công nghệ  di động vệ tinh  được đầu tư  mạnh ở Mỹ và châu Âu  như các tập đoàn Iridium Global Star... Các nhà cung cấp  dịch vụ  đã bắn khoảng hơn 60 quả vệ tinh  (tương tự như BTS) lên quỹ đạo vệ tinh  cách trái đất khoảng 10.000 km (vệ tinh tầm thấp) để đảm bảo sự chuyển vùng cho các thuê bao di động. Phải thừa nhận công nghệ  di động vệ tinh  lúc đó có rất nhiều ưu thế và Tổng cục Bưu điện cũng đã nghiên cứu  đến công nghệ  này. Tuy nhiên, ngoài các yếu tố về thị trường, công nghệ, thiết bị đầu cuối thì vấn đề được đưa ra cân nhắc là nếu chọn mạng GSM, chúng ta sẽ quản lý tốt hơn là triển khai mạng di động vệ tinh. Vì vậy, quan điểm  của Tổng cục Bưu điện là vẫn phải xây dựng  mạng di động thông tin  mặt đất GSM. Sau này, chính sự thận trọng đã giúp chúng ta tránh được rủi ro khi công nghệ  di động vệ tinh  thất bại. Trong khi đó, giá thành thiết bị mạng và thiết bị đầu cuối giảm đi rất nhanh nên mạng GSM thương mại  hóa và phát triển mạnh trên toàn cầu. Bài học rút ra là không phải vấn đề công nghệ  mà chính thị trường  sẽ quyết định  sự thành công  cho nhà khai thác.

Ông có thể cho biết vì sao ban đầu, Bưu điện Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh  được lựa chọn triển khai mạng di động đầu tiên, nhưng sau đó lại thành lập MobiFone?

Tổng cục Bưu điện chủ trương phải tạo sự quản lý thống nhất  mạng GSM trên phạm vi toàn quốc  nên đã thành lập MobiFone. Việc thành lập MobiFone  sẽ thúc đẩy phát triển mạnh mạng GSM và năm 1995, MobiFone  ra đời. Trước đó, Tổng cục Bưu điện cũng thành lập Công ty  Viễn thông  quốc tế  (VTI) để quản lý thống nhất  mạng viễn thông  quốc tế.

Lý do chúng ta lựa chọn Comvik để hợp tác xây dựng  mạng MobiFone  là gì, thưa ông?

Thời kỳ đầu phát triển viễn thông  Việt Nam, chúng ta rất hạn chế vốn. Đến năm 1989 mới có 1,7 triệu USD  để mua tổng đài điện tử  nên phải mua thiết bị trả chậm và hợp tác BCC để có vốn đầu tư. Song  Tổng cục Bưu điện cho rằng cần hạn chế vay trả chậm vì sẽ gặp bất lợi về giá. Qua thành công  của BCC triển khai cung cấp dịch vụ  điện thoại  quốc tế  với Tesltra, chúng ta tiếp tục đàm phán BCC với Comvik vì quan hệ Việt Nam  - Thuỵ Điển cũng gắn bó đặc biệt. Hơn nữa, đây là nước sản xuất thiết bị mạng di động có công nghệ  hiện đại với đại diện tiêu biểu là Ericsson  và nhà khai thác nhiều kinh nghiệm  Comvik. Việc hợp tác với Comvik từ năm 1996 đã giúp cho MobiFone  có vốn và công nghệ  cũng như kinh nghiệm  quản lý hiện đại. Chính nhờ những yếu tố này, mà hiện MobiFone  vẫn là mạng di động có chất lượng  và các chương trình  marketing tốt nhất.

Thưa ông, thời kỳ đó nhu cầu sử dụng dịch vụ  di động chưa nhiều và chúng ta đã có MobiFone  nhưng cơ sở nào để thành lập tiếp mạng VinaPhone?

Tất nhiên, cũng có ý kiến cho rằng tại sao phải thành lập mạng Vinaphone  khi chúng ta đã có MobiFone. Lúc mới thành lập, MobiFone  trực thuộc Tổng cục Bưu điện và nằm ngoài VNPT. Khi thành lập các Tổng công ty  91, Tổng cục Bưu điện chủ trương đưa MobiFone  vào VNPT  cùng với các công ty  trong khối công nghiệp. Lúc đó, MobiFone  bắt đầu hợp tác với Comvik và vẫn phát triển tốt, nhưng Tổng cục Bưu điện và VNPT  quyết định  xây dựng  mạng di động thứ 2 là Vinaphone, hoàn toàn do phía Việt Nam  quản lý và xây dựng. Sở dĩ đưa ra quyết định  này vì lãnh đạo ngành BCVT nhìn nhận chắc chắn nhu cầu dịch vụ  thông tin  di động tại Việt Nam  sẽ bùng nổ, nhưng Comvik cam kết chỉ đầu tư  130 triệu USD  cho MobiFone  trong vòng 10 năm. Mức đầu tư  này rất hạn chế và không thể đáp ứng sự phát triển của thông tin  di động Việt Nam. Quan điểm  của lãnh đạo ngành là cần có mạng di động thứ hai  để giành thế chủ động và không thể duy trì độc quyền  trong kinh doanh  ở một thị trường  được dự đoán là bùng nổ. Hơn nữa, nếu không có mạng di động thứ hai  sẽ rất dễ bị rủi ro khi không đàm phán được với đối tác trong quá trình phát triển MobiFone. Năm 1995, tôi chuyển từ Tổng cục Bưu điện sang làm Tổng giám đốc  VNPT. Khi đó, việc đàm phán với đối tác để tăng đầu tư  cho MobiFone  50 triệu USD  mất vài tháng trời vẫn chưa xong. VNPT  đang trong giai đoạn tăng tốc giai đoạn I nên cũng có nguồn ngoại tệ  để xây dựng  mạng di động thứ hai  của riêng mình. Với quyết tâm đó, tháng 6  năm 1996, chúng ta đã khai trương mạng VinaPhone, giành được thế chủ động và tạo sự cạnh tranh nhất định để phát triển dịch vụ  thông tin  di động tại Việt Nam. Thực tế triển khai đã chứng minh được quyết định  đó là đúng đắn. Động thái này giúp cho MobiFone  được đối tác tăng vốn đầu tư  lên 230 triệu USD  cho mạng lưới.   

Năm 1994, chúng ta đã có mạng di động nhưng vẫn xây dựng  mạng nhắn tin, xin ông cho biết lý do?

Thời điểm này dịch vụ  thông tin  di động rất hạn chế vì đắt đỏ về cước và thiết bị đầu cuối. Trong khi dịch vụ  nhắn tin  giá rẻ  hơn vì vùng phủ sóng xa và đầu tư  ít hơn nhiều so với mạng di động. Nhiều nước cũng phát triển mạng nhắn tin. Sau này giá dịch vụ  thông tin  di động và thiết bị đầu cuối giảm mạnh, dịch vụ  nhắn tin  không phát triển được nên VNPT  đã “khai tử” mạng này.

Thưa ông, đấu tranh cho mở Internet  là quá trình đầy gian nan, vậy việc cho mở di động có khó khăn như Internet  hay không?

Cũng giống như quá trình thuyết phục cho mở Internet, hay dịch vụ  fax…, việc quyết định  cho mở dịch vụ  thông tin  di động cũng có những lo ngại trong công tác  quản lý. Tuy nhiên, mỗi tình huống và giai đoạn khác nhau sẽ có mối lo lắng  khác nhau. Chúng ta có những thuận lợi vì qua thời kỳ mở cửa dịch vụ  viễn thông  đã có chút kinh nghiệm  về nghiệp vụ quản lý, công nghệ, dịch vụ  và giá cả. Vấn đề quản lý luôn được đặt ra đối với tất cả quốc gia, đặc biệt là Việt Nam. Trước đây, chúng ta mở từ cuộc gọi nhân công đi quốc tế  sang tự động rồi sau đó là mở dịch vụ  fax tự động cũng là quá trình trăn trở giữa yêu cầu phát triển của đất nước  và thực tiễn quản lý. Thậm chí, có ý kiến của các đồng chí lãnh đạo cấp cao yêu cầu phải thận trọng khi mở các dịch vụ  viễn thông  trong đó có di động. Thế nhưng, may mắn là khi chúng ta làm việc  với các cơ quan  quản lý về an toàn an ninh thông tin  đã đạt được sự thống nhất. Đồng thời, báo cáo với lãnh đạo cấp cao là khi dịch vụ  hiện đại toàn cầu  hóa và di động khắp nơi thì cách thức quản lý về an toàn an ninh thông tin  cũng phải thay đổi. Chúng tôi  làm việc  với các vị lãnh đạo quản lý cấp cao về an toàn an ninh thông tin thống nhất  quan điểm  rằng: “Ngành Bưu điện cứ phát triển, còn các cơ quan  quản lý sẽ cố gắng thay đổi cơ chế chính sách và cách thức quản lý phù hợp chứ không vì khó quản lý mà không cho dịch vụ  phát triển”. Chính vì quan điểm  như vậy nên chúng ta đã tạo được cơ sở hạ tầng viễn thông  phát triển rất nhanh, những lo lắng  trong quản lý đã không cản trở quá trình phát triển của dịch vụ  thông tin  di động ở Việt Nam.    

Sau khi mạng MobiFone VinaPhone  ra đời, quan điểm  quản lý nhà nước  ra sao để tiếp tục đưa nhiều mạng di động vào để cạnh tranh?

Năm 1995, khi tách quản lý nhà nước kinh doanh  thì quyền chủ động trong việc chọn công nghệ  thiết bị thuộc về các doanh nghiệp. Cơ quan  quản lý nhà nước  chỉ định hướng về công nghệ  và quản lý phổ tần số, giá cước  dịch vụ  cùng thể lệ khai thác dịch vụ. Vì vậy, các cơ chế chính sách từ thời kỳ đó đã chuẩn bị cho cạnh tranh và mở cửa thị trường. Bản thân  Tổng cục Bưu điện rất quyết tâm tạo ra môi trường  cạnh tranh trong lĩnh vực BCVT. Cho đến thời điểm này, chính sách cho cạnh tranh và mở cửa thị trường  đã tác động mạnh mẽ đến dịch vụ  di động với giá cước  ngày càng hạ để cho nhiều người dân  Việt Nam  có thể sử dụng dịch vụ.

Xin cảm ơn ông!

Theo ICTnews
The Gioi Di Dong, Mobile, Mobile Game, Mobile Wallpaper, Free SMS, Goi SMS, GPRS, Ket Noi GPRS, Sony, Motorola, Nokia, O2, Camera, Chup Hinh, Buy Mobile, Sell Mobile, Mobile Fone, Viettel, MobiFone, Apple, Cai Phan Mem, Chuong Dien Thoai, Ringtone, Anh Nen, SIM
Updated: 15/08/2008 | Views: 31 | Rate: 0/0 | Comments: 0
Is this article helpful? YES [0] NO [0]

Comments about: Chọn GSM đem lại thành công cho Việt Nam

Sorry! Not found commenting on article: Chọn GSM đem lại thành công cho Việt Nam!
Other articles

Related to this article in Mạng Di Động Việt Nam

Older articles this article in category Mạng Di Động Việt Nam

Newer articles this article in category Mạng Di Động Việt Nam

Interesting
Dịch vụ chuyển tiền giữa các thuê bao trả trước (V-Share)
Gọi 5 số vàng hưởng 59 đồng/phút của Mobifone
Dịch vụ mới của Viettel: ĐTDĐ nội mạng...
Sẽ cắt dịch vụ di động nếu không cung cấp thông tin
Viettel cung cấp dịch vụ “i Share - Sẻ chia tài khoản”
Tiết kiệm với chương trình nạp thẻ SIM điện thoại
Gọi "chùa" mạng Vina & Mobi?
GPhone: Giải pháp cho những nơi chưa có cáp điện thoại
VNPT giảm cước viễn thông quốc tế
Viettel giảm 55% cước gọi điện thoại quốc tế
Most Views
Dịch vụ chuyển tiền giữa các thuê bao trả trước (V-Share)
Viettel cung cấp dịch vụ “i Share - Sẻ chia tài khoản”
Tiết kiệm với chương trình nạp thẻ SIM điện thoại
Gọi "chùa" mạng Vina & Mobi?
Dịch vụ mới của Viettel: ĐTDĐ nội mạng...
Gọi 5 số vàng hưởng 59 đồng/phút của Mobifone
GPhone: Giải pháp cho những nơi chưa có cáp điện thoại
50 ngàn số đẹp miễn phí mỗi ngày
Tin nhắn ma lại hoành hành
Khóa máy từ xa bằng 1 SMS
  English Tiếng Việt 
Home Page | Privacy | Contact | Friend Links | Search | Sitemap | Revenue Share | Up
Copyright © 2008 PhanVien.Com . All rights reserved.